Khoa học công nghệ Trung Quốc dưới góc nhìn của Mỹ

Trung Quốc đã gặp phải những thách thức nào khi định đưa Khoa học công nghệ trở thành quốc sách hàng đầu?

Khoa học công nghệ Trung Quốc dưới góc nhìn của Mỹ

Bài phân tích của Đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh sẽ cho thấy rõ hơn về điều này.

Trung Quốc đã thực thi một chính sách liên quan đến chuyển dịch cơ cấu hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học bằng cách xóa bỏ cơ chế bao cấp như Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Chính sách này được khu vực tư nhân đón nhận và hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng thông qua quy luật thị trường.

Chủ tịch Đảng Cộng Sản Trung Quốc, ông Giang Trạch Dân nhấn mạnh quyết tâm của chính phủ Trung Quốc trong việc thúc đẩy sự đổi mới Khoa học công nghê (KHCN) trong nước, đáp ứng nhu cầu của ngành công nghiệp Trung Quốc. Mặc dù trước đó, chính sách của Trung Quốc chuyển giao công nghệ từ nước ngoài đã thể hiện rõ triết lý này, nhưng đây là lần đầu tiên các nhà lãnh đạo Trung Quốc nêu rõ chính sách nội địa hoá công nghệ một cách thẳng thắn.

Theo phân tích của Đại sứ quán Mỹ tại Bắc Kinh thì Trung Quốc tập trung nghiên cứu phát triển KH – CN rất cụ thể, nhưng nghiên cứu ứng dụng theo định hướng thị trường vẫn còn nghèo nàn.

Chương trình “Ngọn Đuốc”, dưới sự hỗ trợ của Ủy ban Khoa học và Công nghệ Nhà nước nhằm đem lại một hơi thở mới vào các ngành công nghiệp quốc doanh cũng gặt hái được rất ít thành công. Chương trình nhằm hướng tới hỗ trợ của các dự án  hơn là tạo điều kiện cho ngành công nghiệp đủ sức đối phó với cạnh tranh thị trường.

Một khía cạnh khác của chương trình này là đẩy mạnh các công viên khoa học công nghệ trong niềm kỳ vọng rằng, đó sẽ là những hạt giống đổi mới. Nhiều ý kiến cho biết, kết quả của cả hai cách tiếp cận này cho đến nay đã gây thất vọng vì thiếu sự cạnh tranh trên thị trường, nhằm thúc đẩy sự cải tiến các công ty quốc doanh cỡ “khủng long” nơi ký sinh của nhiều lao động ăn bám, hơn là ủng hộ các loại hình thích nghi tốt hơn để sống sót trong môi trường thị trường mới.

Ngoài ra, Đại sứ quán Mỹ nhấn mạnh, hai yếu tố khác hình như biến mất trong các chính sách của Trung Quốc: Bảo vệ sở hữu trí tuệ cho các sáng kiến; Và các thị trường vốn, đầu tư mạo hiểm nói riêng, để hỗ trợ phát triển sản phẩm vào thị trường.

Một phần ba thị trường Trung Quốc là hàng hóa nhập khẩu cạnh tranh. Trung Quốc hiện phải đối mặt với tiến thoái lưỡng nan: cần phải mở cửa thị trường của mình cho thế giới bên ngoài để thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới giữa các công ty Trung Quốc, nhưng nếu thị trường Trung Quốc bị thống trị bởi các sản phẩm nước ngoài, Trung Quốc sẽ phát triển các công nghệ bản địa như thế nào, khi ngành công nghiệp quốc gia cần phải cạnh tranh trên thị trường thế giới? Phần còn lại của báo cáo sẽ có câu trả lời cho câu hỏi đặc biệt này trong bối cảnh gia nhập WTO của Trung Quốc.

Thách thức trong hấp thu và sản xuất công nghệ mới

Theo Báo cáo từ Đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh vào tháng 12/1996,  Trung Quốc phải vượt qua hàng loạt thách thức của KH – CN trong lĩnh vực công nghiệp và điểm yếu phát triển để ngăn chặn khoảng cách công nghệ giữa Trung Quốc và các nước tiên tiến . Những thách thức KH – CN mà nền công nghiệp của Trung Quốc phải đối mặt gồm: tổ chức yếu kém, thiếu tài nguyên, những chỉ thị nông nổi trong việc mở rộng sản xuất bằng mọi giá, KH – CN xa rời sản xuất, nhập khẩu công nghệ mà không thể hấp thụ được ở giai đoạn ngành công nghiệp trong nước phát triển như hiện nay. Bí mật quân sự nhằm ngăn ngừa khu vực dân sự ăn theo công nghệ quân sự; công nhân ít được đào tạo ; người hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học bị trả lương không xứng đáng.

Tuy nhiên, báo cáo đã không chỉ ra được cách thức Trung Quốc có thể bứt phá khỏi những thiếu sót này bằng cách dựa vào mở rộng  khu vực tư nhân để tạo dựng một sức mạnh Nghiên cứu và Phát triển (R&D) cho Trung Quốc.

Tổ chức yếu kém, bỏ bê, tài nguyên tắc nghẽn và các cuộc kêu gọi mở rộng sản xuất vô lý dẫn đến R & D của Trung Quốc đầy nhược điểm.
Không giống như các quốc gia khác nhanh chóng công nghiệp hóa, Trung Quốc đã không thể giải quyết các vấn đề của một nền công nghiệp yếu kém, lại bị bao vây bởi các vấn đề về giao thông vận tải, tài nguyên, và tắc nghẽn năng lượng. Lợi nhuận thấp, hiệu quả kém và tổ chức cơ cấu công nghiệp nghèo nàn đã ngăn chặn Trung Quốc từ việc giải quyết vấn đề công nghiệp nặng để chuyển sang tập trung vào phát triển công nghiệp nhẹ.

Nền công nghiệp Trung Quốc kém phát triển là kết quả của chỉ thị từ các cấp lãnh đạo, luôn kêu gọi gia tăng sản xuất đến mức rất cao trong một thời gian ngắn. Kết quả là sao nhãng công nghệ sản xuất và phát triển chất lượng sản phẩm. Hơn nữa, các công ty không có quyền tự chủ và tự trách nhiệm đối với lợi nhuận hoặc thua lỗ. Các công ty đã không có những rủi ro và không cạnh tranh với các công ty khác. Mọi người đều rất “an phận thủ thường.”

Nghiên cứu và ứng dụng cách biệt

Các trung tâm R&D của Trung Quốc chủ yếu tập trung trong các viện nghiên cứu hơn là trong các hãng sản xuất. Tại Mỹ, Nhật Bản, Đức, Đài Loan, Hàn Quốc, 80% các đầu tư tiến hành hoặc mua bán R&D diễn ra tại các khu vực tư nhân, chỉ có 8 – 13% là ở các phòng thí nghiệm quốc gia và 12 – 15% là ở các trường ĐH. Nhưng ở Trung Quốc, các công ty sản xuất vẫn chỉ chia sẻ một phần nhỏ trong tất cả hoạt động liên quan đến R&D. Trước đây, ở Trung Quốc, hầu hết R&D đều được thực hiện trong các viện khoa học. Nghiên cứu và sản xuất hoàn toàn tách biệt. Chỉ 27% R&D được tiến hành trong các công ty của Trung Quốc. Hệ thống này đã tách bạch giữa nghiên cứu và sản xuất, là kết quả của nền kinh tế do Nhà nước bao cấp.

Trong hệ thống quy hoạch cũ kỹ ấy, công việc của các doanh nghiệp là sản xuất trong khi nghiên cứu được tiến hành tại các viện nghiên cứu một cách tách biệt. Cách liên lạc duy nhất giữa cả hai là “cây cầu” chậm chạp và thường xuyên bị tắc của các bộ máy quan liêu của chính phủ. Do đó R & D không có mối liên quan đến các nhu cầu của ngành công nghiệp. Các doanh nghiệp đã dựa vào sức mạnh của các sắc lệnh hành chính để xoay xở đủ cách nhằm mở rộng sản xuất. Phần lớn vắng bóng định hướng thị trường về nhu cầu công nghệ mới, cho phép các doanh nghiệp nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như số lượng.

Yếu điểm trong R&D công nghiệp

Lực lượng lao động Trung Quốc trình độ thấp là trở ngại lớn cho việc cải thiện ứng dụng và chuyển giao KH – CN trong nền công nghiệp. Theo điều tra năm 1990, chỉ có 1,4% dân số được giáo dục cao hơn hoặc vào thời điểm đó là sinh viên đại học, trong khi so sánh với Nhật Bản, con số đó là 14,3%,  Hàn Quốc là 8,9% và Đài Loan là 7,5%. Trung Quốc bị thiếu hụt nguồn kỹ thuật viên và các tiêu chuẩn đánh giá trình độ kỹ thuật viên cũng bị kéo thấp xuống.

Doanh nghiệp ở Trung Quốc thường tập trung chủ yếu vào lợi nhuận nhanh chóng từ công nghệ nhập khẩu, ít chú ý đến việc nắm vững các công nghệ mới và biến nó trở thành của riêng mình. Nhiều doanh nghiệp miễn cưỡng cho phép các doanh nghiệp khác tham gia hợp tác với các đối tác nước ngoài. Điều này làm giảm mạnh khả năng của Trung Quốc trong việc tiếp thu công nghệ mới.

Năng lực tiếp thu công nghệ mới của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn yếu kém. Các công ty cỡ vừa và nhỏ của Trung Quốc chỉ dành 1/10 (1,4%) trong phần thu nhập của cty vào hoạt động R & D.

Bí mật quân sự đã ngăn cản các công ty, doanh nghiệp công nghiệp quân sự đào tạo chuyên gia công nghệ tiên tiến cho ngành công nghiệp dân sự.

Nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học và công nghệ quá ít ỏi. Trong năm 1985, cứ trong 1000 công nhân mới có 5 lao động trong lĩnh vực KH – CN; thời điểm đó Nga có 97 người; Mỹ là 60 và Nhật Bản là 49.

Do các thay đổi trong nước và quốc tế làm cho TQ không thực hiện thành công dù chỉ một trong bốn kế hoạch dài hạn chiến lược phát triển KH – CN mà nước này đã lập ra kể từ năm 1949.

Hơn nữa nhân công trong lĩnh vực KH – CN thường bị trả lương thấp hơn người lao động phổ thông, điều này càng làm thiệt hại nghiêm trọng năng suất và tinh thần. Một cuộc khảo sát gần đây của các nhà khoa học tại Học viện Khoa học Trung Quốc cho thấy hầu hết người lao động không tin rằng những vấn đề này sẽ được giải quyết trong tương lai gần.

Theo Viện Nghiên cứu Quốc tế về Công nghệ và  Kinh tế Trung Quốc tỷ lệ nhập khẩu công nghệ Trung Quốc chiếm khoảng 5% tổng nhập khẩu mỗi năm trong(1991-1993).

Nhập nhiều công nghệ mới nhưng khó áp dụng

Về tổng thể, nền sản xuất công nghiệp Trung Quốc vô cùng lạc hậu. Phần lớn tiền đầu tư vào dự án KH – CN đã bị lãng phí bởi các sản phẩm này sẽ không bao giờ rời khỏi bàn giấy, vì công đoạn nghiên cứu phát triển sản phẩm đã bị bỏ qua.

Trung Quốc tập trung nhập khẩu công nghệ tốt nhất để cải thiện mức độ sản xuất, nhưng đã không chú ý đến việc khai thác sử dụng công nghệ này và cải tiến để phù hợp với điều kiện của Trung Quốc.

Báo cáo kết luận, nếu như Trung Quốc không cố hết sức để lĩnh hội và nội địa hóa công nghệ nước ngoài – và sau đó, khi có các công nghệ bản địa hóa, lại tiếp tục thực hiện các cải tiến của riêng nó – Trung Quốc sẽ vẫn luôn luôn chỉ là một nước nhập khẩu các công nghệ nước ngoài.

http://www.baomoi.com/Khoa-hoc-cong-nghe-Trung-Quoc-duoi-goc-nhin-cua-My/45/6063633.epi

http://www.baomoi.com/Home/KinhTe/khoahoc.baodatviet.vn/Khoa-hoc-cong-nghe-Trung-Quoc-duoi-goc-nhin-cua-My/6063633.epi

 

Chinese Challenges in Absorbing and Producing New Technology

A report from U.S. Embassy Beijing  December 1996

Summary. China must overcome a formidable array of industrial S&T absorption and development weaknesses to prevent the technological gap between China and the advanced countries from growing still larger says “Science and Education for a Prosperous China” , a report prepared for Chinese communist party and government officials. Chinese industrial S&T challenges include poor organization, resource shortages, mindless directives to expand production at all costs, the divorce of S&T from manufacturing, insistence on importing technology which cannot be absorbed by Chinese industry at its present stage of development, military secrecy that prevents spinoffs of military technology from reaching the civilian sector, poorly educated workers, and demoralized, severely underpaid S&T personnel. However, the report fails to point out how China could circumvent these shortcomings by relying on the expansion of the private sector to make China an R&D power. End summary.

Poor Organization, Neglect, Resource Bottlenecks and Mindless Calls to Expand Production Cause China’s R&D Weaknesses

According to the report, “Science and Education for a Prosperous China” China’s economic development began relatively late, shortly after the Opium War of 1840. In 1949, industry accounted for only 12.6 percent of China’s GNP and 2 percent of its work force. China chose to concentrate on the development of heavy industry. Unlike other rapidly industrializing countries, China has not been able to solve the problems of a weak industrial base beset by problems of transportation, resource, and energy bottlenecks. The low profitability, low efficiency and poor organization of its industrial structure have prevented China, unlike other countries, from solving heavy industry problems and moving on to focus on the development of light industry. Chinese industry has suffered severely as a result of directives from on high calling for production to be boosted to very high levels in a short time. The neglect of manufacturing technology and product quality development was the result. Moreover, companies had no autonomy and no responsibility for profits or losses. Companies took no risks and did not compete with other companies. Everyone ate from the “iron rice bowl”.

Weaknesses: R&D Organization, Education, Communications, R&D Absorption Capacity

Chinese R&D is located in research institutes rather than in enterprises. In the USA, Japan, Germany, Taiwan and Korea 80 percent of all R&D spending takes place in the private sector while 8 – 13 percent is spent in government laboratories and 12 – 15 percent in universities. In China, enterprises have a far smaller share of total R&D spending. Since in China, most R&D work is done in research institutes, research and manufacturing have been largely separate. Only 27 percent of R&D spending is done by Chinese enterprises. This Chinese system, which divides research and production, is a heritage of the old, centrally planned economy. In the old state planning system, the vocation of enterprises was production while research was carried on in secluded research institutes. The only contact between the two was the sluggish and often clogged channel of the government bureaucracy. R&D therefore lost relevance to the needs of industry. Enterprises have relied on the power of administrative fiat to obtain resources which enable them to expand production. Largely absent has been a market-driven focus on new technologies which would enable enterprises to improve product quality as well as quantity, concluded the report.

Critical Chinese industrial R&D weaknesses, according to the report, include:
Poor technical skills of industrial workers. The low level of education of the Chinese work force is a big obstacle to the improvement of Chinese industrial S&T. According to the 1990 population survey, only 1.4 percent of the population has received higher education or is now a university student. The comparable figures for Japan, Korea and Taiwan Province are 14.3, 8.9 and 7.5 percent. China suffers from a shortage of technicians and the resulting watered down qualification standards for technicians.
Chinese enterprises too often focus on quick profit from imported technology, pay little attention to mastering the new technology and making it their own, says the report. Many enterprises are reluctant to allow other enterprises to join in cooperation with foreign partners. This sharply reduces China’s ability to absorb new technologies. A new law helps finance projects which involve the absorption of new technologies by Chinese enterprises.
Poor technology absorption capability of medium and small entrprises. Chinese small and medium-sized companies spend only one-tenth as much (1.4 percent) as a proportion of their income on R&D as do foreign companies of comparable size.
Military secrecy prevents China’s military-industrial sector from spinning off much of its advanced technological expertise to civilian industry.
Poor communications. Only 3.4 percent of the people in China have telephones. Trying to built a high tech country in the age of computers and information networks is impossible without an adequate information infrastructure. Thus, getting technology to village enterprises scattered across the Chinese interior is difficult.
Chinese has too few scientific and technical workers. In 1985 for every thousand workers, China had 5 S&T workers; the USSR had 97, the USA 60 and Japan 49.
Changes in the domestic and international situation have not allowed the successful implementation of even one of the four long-term S&T plans which China has drawn up since 1949.
Excessive focus on military technologies and too many and too detailed directives in the S&T field have wasted valuable S&T resources.
Attacks on intellectuals for their during the Cultural Revolution because of their “rightist” thinking have severely damaged S&T work and resulted in low morale among S&T talent. As S&T workers are often paid less than manual laborers, this has seriously damaged productivity and morale. The poor atmosphere also discouraged individual creativity and initiative. A recent survey of scientists and engineers at the Chinese Academy of Sciences showed that most people there do not believe that these problems cannot be solved in the near future.
According to China’s International Technology and Economics Research Institute, Chinese technology imports as a proportion of total imports ran to about 5 percent annually during 1991 – 1993. Since 1979 the leading sources of foreign technology imports have been Japan, the United States and Germany. Japanese technology exports to China in 1993 totalled US $1.8 billion or about one-fifth of Chinese imports from Japan.
A Weakness: Insisting on Latest, But Hard to Absorb Technology

According to the report, the absolute preference on the part of many Chinese ministries and enterprises for the very latest and best technology over less advanced technologies which could be much more readily absorbed by Chinese industry has resulted in severe losses. As a result of this approach, readily absorbable technology which could produce important productivity gains is rejected in favor of advanced technology which Chinese enterprises are unable to exploit. Although China has the atom bomb, the hydrogen bomb and a space program — and these are important — the Chinese industrial manufacturing base is backward overall. Much money invested in S&T projects has been wasted on products which never left the display case because product development work was neglected. China has stressed importing the best technology to improve the level of Chinese manufacturing but has seriously neglected the work needed to digest this technology and make it indigenous to China. If China does not stress digesting and making foreign technology indigenous — and then, having made the technology indigenous, going on to make improvements of its own — China will always remain a mere importer of foreign technology concluded the report.

The Great Challenge China Faces

Before the Second World War, there were only a few industrialized countries. But since the war, many countries have industrialized, and some of them with breathtaking speed. China can now be said to lag seriously behind not only the advanced countries but behind many of the developing countries (such as Mexico, Singapore, Korea and Brazil) as well. During the 1970s and 1980s, the traditional labor intensive and capital industries such as steel manufacturing faded in importance to be replaced by knowledge-intensive industries. Most worrying of all is the new technologies of the futures will be much more easily absorbed by the advanced nations. The gap between the advanced and the developing countries is more likely to grow rather than to shrink in the coming years, concluded the report.

“Science and Education for a Prosperous China” Series
“Science and Education for a Prosperous China” written by the State Science and Technology Commission (SSTC) (overview) elaborates on the national science policy propounded in the CPC Central Committee and State Council “Decision on Accelerating the Progress of Science and Technology” and in speeches by President Jiang Zemin and Premier Li Peng Chinese S&T Policy: A View From the Top . Reports in this series summarize and comment at greater length this 400 page document written for Chinese Communist Party (CPC) and Chinese government officials. The reports summarize and analyze the economic, food security (including the Lester Brown “Who Will Feed China?” controversy and Chinese Critics Confront Lester Brown) , the challenges of absorbing and creating technology and military aspects of the new Chinese S&T policy which emerged from the May 1995 conference. The reports also summarize and analyze the environmental portion of the SSTC volume. The SSTC volume examines S&T lessons China can draw from the S&T policies of other countries as well as lessons China draws from its own S&T experience since 1949. The report Chinese S&T and the Challenge of WTO Accession reviews the effect of S&T on the risks and rewards China will encounter when it joins the WTO.

http://beijing.usembassy-china.org.cn/report1296education2.html


This entry was posted in Khoa Học - Kỹ Thuật and tagged , , , , , , , , , , , , , . Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s